Thời điểm nào có thể hạ lãi suất?
Kinh tế Việt Nam năm 2011 trải qua nhiều khó khăn thách thức trước bất ổn của tài chính trong nước và toàn cầu, áp lực lạm phát và tỷ giá tăng cao. Sau những nỗ lực của Chính phủ, các Bộ ngành và các doanh nghiệp trong việc thực hiện quyết liệt và hiệu quả NQ 11/CP về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đến nay, những nội dung của Chỉ thị cơ bản được hoàn thành, nền kinh tế bảo đảm tốc độ tăng trưởng gần 6%, lạm phát được đẩy lùi kể từ tháng 8/2011, căng thẳng về tỉ giá dần được tháo gỡ khi thặng dư ngoại tệ ước đạt trên 2 tỷ USD, kinh tế vĩ mô dần đi vào ổn định.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn như lượng hàng hoá tồn kho về cuối năm có dấu hiệu tăng lên (chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/11/2011 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,5% so với cùng thời điểm năm trước); thị trường chứng khoán và bất động sản biến động và giảm sâu trước sự khan hiếm tiền mặt, do lãi suất ngân hàng cao; sự hạn chế tiêu dùng của người dân do kinh tế khó khăn; thị trường xuất khẩu gặp khó khăn do kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và khủng hoảng nợ công châu Âu ngày càng trầm trọng. Trong bối cảnh đó, đã có nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng Ngân hàng nhà nước (NHNN) nên có biện pháp hạ lãi suất để nền kinh tế Việt Nam tránh đi vào suy giảm. Những ý kiến này càng có cơ sở khi trong cuộc họp báo tháng 9/2011 Thống đốc NHNN đã có những phát biểu thể hiện động thái đó, và trong cuộc họp thường kỳ của Chính phủ cuối tháng 11/2011, Thủ tướng CP đã chỉ thị cho NHNN có những chính sách điều hành tiền tệ linh hoạt và chặt chẽ để từng bước hạ trần lãi suất huy động, tiến tới hạ lãi suất cho vay.
Đâu là cơ sở để giảm lãi suất?
Trong những tháng cuối năm, lạm phát đang được kiềm chế và đã giảm xuống dưới mức 1%/tháng. Dự kiến tháng 12/2011 này, mức lạm phát cũng không vượt quá 0,5% và các tháng tiếp theo cũng xoay quanh mức này. Trong điều kiện đó, nền kinh tế có dấu hiệu bước vào tình trạng phát triển trì trệ, có thể dẫn đến giảm phát khiến hạ lãi suất và cung tín dụng hợp lý là biện pháp mà Chính phủ có thể thực hiện, nhưng thời điểm để hạ lãi suất hợp lý là thời điểm nào để không gây hệ lụy xấu cho nền kinh tế là điều các nhà hoạch định chính sách đang phải cân nhắc và lựa chọn.
Cuối năm 2011 chưa phải thời điểm lãi suất có thể điều chỉnh giảm?
Cuối năm 2011 và những tháng đầu năm 2012 trùng thời điểm Tết Nguyên Đán, áp lực lạm phát thường đè nặng do nhu cầu tiêu dùng đẩy giá cả các mặt hàng tăng cao, nhu cầu tiền mặt để dự trữ hàng hoá phục vụ Tết, thanh toán nợ đến hạn của các hợp đồng trong năm của khách hàng và chi dùng cá nhân, tổ chức trong dịp Tết làm giảm lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng làm thanh khoản tiền mặt khan hiếm, lãi suất khó có thể điều chỉnh giảm. Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ thời gian qua tăng mạnh, nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ tăng đã gây sức ép tăng tỷ giá hối đoái khiến việc giảm lãi suất khó có thể thực hiện được vào thời điểm này.
Năm 2012 là thời điểm thuận lợi?
Có thể thấy, điều kiện tiên quyết để Chính phủ và hệ thống ngân hàng “rót tiền” đúng địa chỉ, nguồn vốn cung ra được hấp thụ hiệu quả là cải tổ mạnh mẽ và triệt để hệ thống ngân hàng theo hướng minh bạch và hiệu quả, sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước giảm dần chỉ số ICOR, thanh lọc doanh nghiệp tư nhân để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn chộp giật, đầu cơ và cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh nguy cơ suy giảm hiện diện khắp toàn cầu, một loạt các ngân hàng trung ương trên thế giới và khu vực đã thực hiện việc cắt giảm lãi suất để kích thích tăng trưởng. Việt Nam không phải là ngoại lệ khi các doanh nghiệp đang chịu chi phí vốn tăng cao làm giảm sức cạnh tranh, nguy cơ thua ngay trên sân nhà của các doanh nghiệp Việt ngày một hiện rõ. Trước tình hình đó, bắt đầu từ cuối năm 2011, Chính phủ và NHNN đã hàng loạt những động thái và biện pháp để chuẩn bị cho việc hạ lãi suất, trong đó động thái nhằm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đang được NHNN đẩy mạnh thực hiện với việc kêu gọi sự tự nguyện sát nhập của các NHTM nhỏ, cải tổ lại hệ thống ngân hàng tài chính bằng việc siết các quy định trong hoạt động và nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng.
Việc cải tổ hệ thống ngân hàng được làm song song với việc nâng cao chất lượng tài sản của các NHTM có thể được thực hiện thông qua việc mua lại nợ của các NHTM sau khi các khoản nợ của các NHTM được phân loại theo một tiêu chí thích hợp. Trong quá trình cải tổ, NHNN có thể xây dựng những điều khoản ngoại lệ bằng việc cho một số NHTM tốt được tăng thêm dư nợ. Việc quan trọng nữa là nâng cao hiệu quả của đầu tư công, tăng tỉ lệ giải ngân vốn ODA.
Sau khi thực hiện hiệu quả những việc này, trong năm 2012, việc hạ lãi suất của NHNN có thể sẽ được thực hiện thông qua việc giảm trần lãi suất huy động và tiến tới xóa bỏ các loại trần lãi suất. Có thể thấy, lượng cung tiền trong thời gian qua cơ bản đã phản ánh vào lạm phát trong các năm 2010 và 2011. Lúc này, tăng trưởng tín dụng thông qua cung ứng tiền của các định chế tài chính sau khi đã cải cách hệ thống ngân hàng hiệu quả, cung tiền đúng mục đích, đúng địa chỉ sẽ không tạo ra lạm phát tăng cao và tạo động lực cho nền kinh tế phát triển. Ngược lại, nếu quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và hệ thống ngân hàng không đạt hiệu quả, việc hạ lãi suất theo biện pháp cung tiền chỉ có tác dụng làm “giảm đau” tạm thời chứ không trị được căn bệnh lạm phát, sẽ làm tăng thêm nguy cơ nổ bong bóng tài sản, đặc biệt là bất động sản, khi đó hệ lụy đối với nền kinh tế là rất lớn.
Trần Thị Kim Dung (PVFC)
Số lượt đọc:
114
-
Cập nhật lần cuối:
21/12/2011 03:53:00 PM